Hen phế quản ở người trưởng thành

Cập nhật: 7/8/2023

Hen phế quản ở người trưởng thành

 Hen phế quản ở người trưởng thành

 
   Hen phế quản (còn gọi là suyễn) là một trong bệnh mạn tính đường hô hấp thường gặp nhất, với khoảng 300 triệu người mắc trên thế giới. Theo Tổ chức Toàn cầu phòng chống Hen (GINA), bệnh hen phế quản đặc trưng bởi tình trạng viêm niêm mạc đường thở, dẫn đến phù nề, co thắt phế quản, tăng tiết dịch nhày và tăng tính phản ứng đường thở. Các yếu tố này phối hợp khiến đường thở bị chít hẹp, người bệnh trong tình trạng khó thở, khò khè, thở rít. Các triệu chứng của hen diễn ra từng cơn và có thể tự hồi phục hoặc sau điều trị. Ngoài cơn hen, người bệnh thường cảm thấy bình thường, nhưng quá trình viêm vẫn diễn ra âm ỉ.
   
   Các nghiên cứu dịch tễ học trong một vài thập kỷ gần đây cho thấy, cả tần xuất và độ lưu hành của hen cũng như các bệnh dị ứng khác đều đang có xu hướng gia tăng trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên, cơ chế gây ra sự thay đổi này còn chưa được hiểu một cách chính xác. Một số yếu tố nguy cơ làm nặng bệnh hen như tình trạng ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng đường hô hấp… đã được đưa ra nghiên cứu nhưng đều được chứng mình không phải là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng độ lưu hành của bệnh. Ở Việt Nam, theo những số liệu mới được công bố gần đây, độ lưu hành của hen ở người trưởng thành khoảng 4,1%.
   
   Nguyên nhân gây bệnh hen hiện chưa được biết chính xác, nhưng được cho là do sự phối hợp của các bất thường về di truyền với sự “tấn công” của một số tác nhân từ môi trường sống. Những bất thường về di truyền dẫn đến sự hình thành cơ địa dị ứng và khiến cơ thể bị mẫn cảm với hàng loạt các tác nhân trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, nấm mốc, lông súc vật, thuốc, thức ăn, hoá chất, vẩy, phấn côn trùng …(gọi chung là các dị nguyên). Khi cơ thể tiếp xúc với những dị nguyên này sẽ gây ra các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng…
 
   Đặc điểm lâm sàng: Bệnh hen thường diễn biến cấp lên từng đợt xen kẽ với những giai đoạn ổn định, trong đó, các đợt cấp có thể bị khởi phát do người bệnh tiếp xúc với dị nguyên gây bệnh hoặc một số yếu tố khác như thay đổi thời tiết gây nhiệt độ lạnh và độ ẩm cao, gắng sức, sang chấn tâm lý (như buồn, vui, khóc, cười), một số loại thuốc (như aspirin, các thuốc chống viêm giảm đau, thuốc chẹn beta giao cảm), niễm trùng đường hô hấp, ô nhiễm môi trường (khói, bụi, hoá chất, mùi thơm…), một số thức ăn và đồ uống có chứa gốc sulfite…Các yếu tố này không phải là nguyên nhân gây bệnh nhưng có thể khởi phát không đặc hiệu các cơn hen và được gọi là các yếu tố kích phát cơn hen.
   Khác với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh hen có tính chất dao động rõ rệt, các triệu chứng của bệnh thường chỉ xảy ra trong cơn hen, ngoài cơn người bệnh thường cảm thấy bình thường. Cơn hen hay xuất hiện về đêm hoặc sau khi tiếp xúc với dị nguyên gây bệnh hoặc các yếu tố kích phát cơn hen. Các triệu chứng thường gặp trong cơn hen là ho khạc đờm (ho từng cơn, tăng lên khi nằm, đờm trắng dính), khó thở (chủ yếu là khó thở ra, tăng lên khi nằm người bệnh cảm giác như không thể đưa được không khí vào phổi), khò khè, thở rít, tức, nặng ngực (cảm giác như bị vật nặng đè ép trên ngực).
   Thăm khám có thể thấy người bệnh lo lắng, hốt hoảng, thở nhanh, lồng ngực giãn căng, co kéo hõm ức, nói câu ngắn, tím môi và đầu chi. Nghe phổi có tiếng ran rít ran ngáy. Không phải tất cả các cơn hen đều có đầy đủ các triệu chứng trên. Ngoài ra, khoảng 5% các trường hợp hen không có những cơn khó thở kiểu hen, chỉ có triệu chứng duy nhất là ho kéo dài, được gọi là hen thể ho đơn thuần. Người bệnh hen cũng thường có cơ địa dị ứng nên hay mắc kèm những bệnh dị ứng khác như viêm mũi dị ứng, chàm, dị ứng thuốc, dị ứng thức ăn…
 
   Bệnh hen được chẩn đoán khi người bệnh có cơn khó thở điển hình kiểu hen, có tiền sử dị ứng cá nhân và gia đình, đo chức năng hô hấp và lưu lượng đỉnh có rối loạn thông khí tắc nghẽn. Trong những trường hợp khó chẩn đoán như hen thể ho đơn thuần, cần làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu như test phục hồi phế quản, test xác định dị nguyên gây bệnh hoặc test kích thích phế quản với methacholine.
 
   Điều trị hen: nếu được điều trị sớm và đúng phác đồ với các thuốc dự phòng, bệnh hen dù không thể điều trị khỏi nhưng hoàn toàn có thể được kiểm soát, có nghĩa là người bệnh không có triệu chứng ban ngày, không thức giấc ban đêm do hen, không có cơn hen kịch phát, không phải đi khám cấp cứu, không phải dùng thuốc cắt cơn, không bị hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày và chức năng phổi bình thường hoặc gần bình thường... Để đảm bảo hiệu quả của các thuốc điều trị, tất cả các yếu tố có thể làm nặng bệnh như dị nguyên gây bệnh hoặc các yếu tố kích phát triệu chứng đều cần được phát hiện và tránh tiếp xúc. Ví dụ, với một số loại dị nguyên như bọ nhà, phấn hoa, nấm mốc, rất khó có thể tránh được hoàn toàn sự tiếp xúc nhưng có thể hạn chế được tối đa bằng sự phối hợp nhiều biện pháp khác nhau. Với các loại bọ nhà,  không dùng các vật dụng trong nhà có khả năng bắt bụi cao như thảm, rèm treo, loại bỏ các vật dụng không cần thiết trong phòng, giặt chăn ga gối đệm hàng tuần và dùng điều hoà không khí để giảm độ ẩm trong phòng… Để hạn chế sự phá triển của nấm mốc, cần tạo đủ ánh sáng và giảm độ ẩm trong nhà, lau sạch các vùng ẩm thấp, mang khẩu trang khi dọn dẹp các đồ đạc cũ. Với các loại phấn hoa, nên đóng kín cửa và dùng điều hoà hoặc máy lọc không khí khi phấn hoa rụng nhiều, hạn chế ra ngoài và nên mang khẩu trang khi đi ra ngoài trong khoảng từ 5 -10 giờ sáng là khoảng thời gian phấn hoa rụng nhiều nhất. Để hạn chế tiếp xúc với các yếu tố kích phát cơn hen, người bệnh hen cần tránh tối đa việc dùng các loại rượu bia và các đồ uống có cồn, không hút thuốc lá, tránh những nơi môi trường bị ô nhiễm (bụi, khói, hoá chất), tránh hoạt động gắng sức, tránh dùng các thực phẩm chứa các chất phụ gia có gốc sulfite, tránh súc động mạnh... Một số loại thuốc có thể gây khởi phát các cơn hen nặng hoặc làm giảm triệu chứng của các thuốc cắt cơn hen như các thuốc chống viêm giảm đau (như aspirin, mofen, diclofenac), thuốc chẹn bêta giao cảm (như propranolol) cũng nên tránh sử dụng.
   
   Các thuốc điều trị bệnh hen gồm 2 nhóm cơ bản: là nhóm các thuốc cắt cơnthuốc dự phòng dài hạn. Trong chiến lược điều trị hen hiện nay, các thuốc dùng tại chỗ (bình xịt hoặc khí dung) được ưu tiên sử dụng do có thể phân phối thuốc trực tiếp đến phổi, tác dụng cắt cơn nhanh và gây ít tác dụng phụ hơn so với đường uống hoặc tiêm truyền.
   Các thuốc dự phòng dài hạn được chỉ định cho các bệnh nhân hen mức độ vừa và nặng, có tác dụng ngăn ngừa phản ứng viêm mạn tính và dự phòng được sự xuất hiện của các triệu chứng hen. Hiện nay, có 4 nhóm thuốc chính được sử dụng trong dự phòng hen ở người trưởng thành là corticoid dạng hít (budesonide, fluticasone, mometasone…), thuốc cường bêta 2 giao cảm tác dụng kéo dài (salmeterol và formoterol), thuốc kháng leukotrien (montelukast) và theophylin phóng thích chậm. 
   Thuốc cắt cơn hen ở người trưởng thành bao gồm 3 nhóm chính là các thuốc cường bêta 2 giao cảm tác dụng ngắn (như salbutamol, bricanyl, fenoterol…), nhóm xanthine (aminophylin, theophylin) và các thuốc huỷ phó giao cảm (như ipratropium, tiotropium), trong đó, các thuốc cường bêta 2 giao cảm tác dụng ngắn được ưu tiên sử dụng do có tác dụng giãn phế quản nhanh và mạnh. Bệnh hen dù được kiểm soát hoàn toàn cũng vẫn có nguy cơ xảy ra các cơn cấp nếu người bệnh tiếp xúc với các yếu tố kích phát, do đó, người bệnh hen cần luôn nhớ mang theo bình xịt cắt bên mình để dùng ngay khi cần.
 
   Trong theo dõi điều trị hen, người bệnh nên ghi nhật ký triệu chứng hen hàng ngày để đánh giá mức độ kiểm soát bệnh với điều trị hiện tại, theo dõi trị số lưu lượng đỉnh bằng lưu lượng đỉnh kế mỗi ngày 2 lần (sáng và chiều). Cần lưu ý xác định trị số cao nhất của mỗi người bệnh vào lúc hen mới được chẩn đoán và đang được kiểm soát tốt nhất. Đây là thông số dễ đo và phản ánh rất tốt tình trạng chức năng thông khí phổi. Khi nó giảm dưới 80% giá trị tốt nhất của người bệnh hoặc dao động sáng chiều lớn hơn 20%, chứng tỏ hen chưa được kiểm soát tốt, cần tái khám hoặc tình trạng hen đang xấu đi và cần được điều trị sớm. Khi hen đã được kiểm soát, người bệnh nên khám định kỳ 1-3 tháng một lần. 
   
   Người bệnh cần phải đến khám bác sĩ ngay khi có các dấu hiệu của cơn hen nặng như khó thở khi nghỉ ngơi, nói ngắt quãng, tím tái, thở nhanh với tần số thở >30 lần/ phút,  nhịp tim nhanh > 120 lần/phút, lưu lượng đỉnh <60% giá trị lý thuyết sau điều trị, người bệnh mệt lả, kiệt sức, đáp ứng với thuốc giãn phế quản chậm, không cải thiện trong 2- 6 giờ sau điều trị bằng glucocorticoid uống hoặc diễn biến nặng dần lên.
 
                                                                                                  TS.BS. Nguyễn Hữu Trường
Phone
Top